Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018
Phong phú hình thức giáo dục kỹ năng giao tiếp
Cô giáo Phạm Thị Hương - Trường Tiểu học Thị Trấn
Cẩm Thủy trong quá trình giảng dạy đã rút ra nhiều giải pháp giáo dục kỹ năng
giao tiếp cho học sinh tiểu học.
Thông qua các tiết học, giáo viên có thể lồng ghép giáo dục
kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
Ví dụ, trong tiết Kể chuyện, giáo viên yêu cầu học sinh kể lại
câu chuyện cho cả lớp nghe, giúp học sinh rèn kĩ năng giao tiếp trước đám đông,
mạnh dạn và tự tin, nói năng ngày càng lưu loát hơn.
Khi kể xong, giáo viên mời các bạn nhận xét, trao đổi về nội
dung ý nghĩa câu chuyện, nhận xét về tính cách của các nhân vật trong truyện,
giúp các em tạo cảm giác tự tin khi trao đổi một vấn đề, cách giải quyết một vấn
đề có hiệu quả nhất.
Trong tiết Khoa học, qua việc tổ chức học nhóm rèn cho học
sinh kĩ năng giao tiếp trước các bạn, kĩ năng hợp tác cùng chung sức làm việc,
giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc.
Trong tiết Toán, khi học sinh đánh giá, nhận xét bài làm của
bạn, các em đã được rèn kĩ năng giao tiếp một cách đúng mực và kĩ năng chia sẻ.
Chẳng hạn: Bạn làm sai, nhận xét là: "Theo tớ, cách giải
thế này" chứ không nói là:"Cậu làm sai rồi" hoặc nhận xét một
cách không tế nhị…
Tổ chức nhóm tạo cơ hội cho mọi đối tượng được nói, được
trình bày miệng trước tổ, được mạnh dạn trình bày và biết cách trình bày một vấn
đề nào đó trước tập thể.
Từ đó, học sinh rèn kỹ năng giao tiếp, biểu hiện thái độ cử
chỉ khi trình bày để tăng thêm sức biểu cảm, tăng sức thuyết phục của vấn đề mà
mình trình bày, cũng nhờ đó, các em tự tin hơn trong giao tiếp, mạnh dạn hơn
khi nói trước đông người.
Khi dạy Khoa học ở lớp 4: Tổ chức cho học sinh hoạt động
theo nhóm, với nhiệm vụ mỗi em trong nhóm cùng thảo luận bàn bạc và đi đến thống
nhất một nội dung mà giáo viên yêu cầu thảo luận, cử một bạn ghi vào bảng nhóm
kết quả đã thống nhất.
Khi thực hiện xong nhiệm vụ; tổ chức cho các nhóm trình bày
trước lớp để cả lớp cùng nhận xét về cách trình bày của nhóm bạn. Giáo viên thận
trọng quan sát tất cả hoạt động giao tiếp của học sinh, sau đó nhẹ nhàng nhắc
nhở.
Hoặc, qua việc tổ chức học nhóm các môn Tiếng Việt, Đạo đức,
Khoa học.. học sinh tự giác và chủ động tìm và nói ra kiến thức đã khám phá.
Mỗi khi báo cáo kết quả, giáo viên chú ý rèn học sinh ý thức
tôn trọng và lắng nghe ý kiến của bạn, của nhóm khác, tự tin và tự giác cùng
trao đổi, bàn bạc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm, dám nói ra suy nghĩ hoặc
bảo vệ ý kiến của nhóm mình trước tập thể, trước các nhóm khác một cách đúng đắn,
theo hướng tích cực.
Hoạt động Đội là hoạt động tập thể có ý nghĩa quan trọng đối
với học sinh lớp 4, vì có những em vừa mới được kết nạp vào Đội ở đầu năm lớp
4.
Chính hoạt động Đội giúp các em thấy mình dường như lớn lên,
trưởng thành hơn, vào Đội các em được giao lưu, học hỏi với các bạn đội viên
khác trong trường, được hoạt động chung, được tham gia các phong trào, các cuộc
thi do Đội tổ chức.
Qua hoạt động Đội rèn cho các em nhiều kĩ năng giao tiếp mới,
đó là giao tiếp với các anh chị phụ trách chi đội, các Đội viên, các Sao, giao
tiếp với các bạn trong Ban chỉ huy liên đội, tạo cho các em giao tiếp trong các
mối quan hệ đa dạng hơn.
Từ đó, các em biết giao tiếp phù hợp trong các tình huống của
môi trường mới mà người đội viên tham gia.
Giáo viên cần chú ý rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh không
chỉ trong học tập, trong sinh hoạt Đội mà cả trong cả các hoạt động tập thể,
bao gồm: Hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt lớp, sinh hoạt đầu giờ.
Để rèn được kĩ năng giao tiếp, giáo viên phải cùng sinh hoạt
với các em, lắng nghe đồng thời hướng học sinh giao tiếp một cách lịch sự,
không chỉ chích nhau trong tiết sinh hoạt mà chỉ khuyên các bạn cố gắng khắc phục
những khuyết điểm, phát huy những ưu điểm để thực hiện một cách tốt hơn trong
tuần tiếp theo…
Hoạt động vui chơi, đặc biệt là trong giờ ra chơi, học sinh
thường có những biểu hiện không tốt bằng trong giờ học. Phần lớn học sinh mắc lỗi
vào giờ ra chơi.
Vì thế trong giờ ra chơi, giáo viên cần theo dõi, quán xuyến
đến mọi học sinh trong trường, trong lớp, chú ý xem các em chơi trò chơi gì,
nói năng với nhau ra sao, nhắc nhở những học sinh còn nói năng chưa phù hợp.
Có như vậy học sinh mới chú ý rèn cách nói của mình cho đúng
cho phù hợp. Giáo viên cũng cần hướng học sinh tham gia các trò chơi lành mạnh,
có ý nghĩa, có tinh thần tập thể như: chơi chuyền, chắt, nhảy dây, đá cầu, kéo
co.
Những trò chơi đó góp phầ giáo dục học sinh kĩ năng giao tiếp
với nhau và tạo ra tinh thần đồng đội.
Thực tế cho thấy nhiều học sinh ở trường rất ngoan nhưng về
nhà lại ngược lại. Lí do là vì ở trường có các thầy cô và các bạn theo dõi và
đánh giá xếp loại hạnh kiểm, còn ở nhà thì không.
Để các em vừa giao tiếp tốt ở trường vừa giao tiếp tốt ở nhà
và ở mọi nơi, mọi lúc, có thể hướng dẫn học sinh cùng học nhóm ở nhà để từ đó
các em theo dõi, giúp nhau trong cả học tập lẫn ứng xử.
Đồng thời, thông tin hai chiều giữa giáo viên và phụ huynh học
sinh, trao đổi một cách thường xuyên về tình hình của con em ở nhà.
Em nào mắc lỗi hay cư xử chưa đúng mực khi ở nhà, nhẹ nhàng
gặp riêng để nói chuyện, nhắc nhở và khuyên bảo.
Kĩ năng giao tiếp là một trong 21 kĩ năng mà học sinh cần có
và rèn luyện. Học sinh có kĩ năng giao tiếp tốt sẽ tạo điều kiện cho 20 kĩ năng
khác cũng tốt hơn.
Vì thế, người giáo viên phải coi việc giáo dục kĩ năng khác
cũng có ý nghĩa quan trọng như giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh, phối kết
hợp giáo dục kĩ năng giao tiếp cùng với việc giáo dục các kĩ năng khác theo địa
chỉ tích hợp trong các môn học theo qui định và mọi lúc, mọi nơi phù hợp trong
từng hoàn cảnh cụ thể.
>> Nguồn: Giáo dục thời đại
Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018
Từ vựng tiếng Anh chủ đề nhà bếp
Chủ đề nhà bếp – một chủ đề rất quen thuộc với tất cả chúng
ta. Để học tiếng Anh về chủ đề này trước hết bạn phải học từ vựng tiếng Anh chủ
đề nhà bếp. Cách học từ vựng chủ đề này hiệu quả là bạn học trực quan và áp
dụng vào giao tiếp hằng ngày. Mời bạn xem bài viết dưới đây.
1. Từ vựng tiếng Anh về thiết bị phòng bếp
- fridge (viết tắt của refrigerator): tủ lạnh
- coffee pot: bình pha cà phê
- cooker: bếp nấu
- dishwasher: máy rửa bát
- freezer: tủ đá
- kettle: ấm đun nước
- oven: lò nướng
- stove: bếp nấu
- toaster: lò nướng bánh mì
- washing machine: máy giặt
2. Từ vựng tiếng Anh về đồ dùng trong bếp
- bottle opener: cái mở chai bia
- chopping board: thớt
- colander: cái rổ
- corkscrew: cái mở chai rượu
- frying pan: chảo rán
- grater hoặc cheese grater: cái nạo
- juicer: máy ép hoa quả
- kitchen foil: giấy bạc gói thức ăn
- kitchen scales: cân thực phẩm
- ladle: cái môi múc
- mixing bowl: bát trộn thức ăn
- oven cloth: khăn lót lò
- oven gloves: găng tay dùng cho lò sưởi
- rolling pin: cái cán bột
- saucepan: nồi
- scouring pad hoặc scourer: miếng rửa bát
- sieve: cái rây
- tin opener: cái mở hộp
- tongs: cái kẹp
- tray: cái khay, mâm
- whisk: cái đánh trứng
- wooden spoon: thìa gỗ
- knife: dao
- fork: dĩa
- spoon: thìa
- dessert spoon: thìa ăn đồ tráng miệng
- soup spoon: thìa ăn súp
- tablespoon: thìa to
- teaspoon: thìa nhỏ
- carving knife: dao lạng thịt
- chopsticks: đũa
- cup: chén
- bowl: bát
- crockery: bát đĩa sứ
- glass: cốc thủy tinh
- jar: lọ thủy tinh
- jug: cái bình rót
- mug: cốc cà phê
- plate: đĩa
- saucer: đĩa đựng chén
- sugar bowl: bát đựng đường
- teapot: ấm trà
- wine glass: cốc uống rượu
3. Từ vựng tiếng Anh khác về đồ dùng trong bếp
- bin: thùng rác
- cling film (tiếng Anh Mỹ: plastic wrap): màng bọc
thức ăn
- cookery book: sách nấu ăn
- dishcloth: khăn lau bát
- draining board: mặt nghiêng để ráo nước
- grill: vỉ nướng
- kitchen roll: giấy lau bếp
- plug: phích cắm điện
- tea towel: khăn lau chén
- shelf: giá đựng
- sink: bồn rửa
- tablecloth: khăn trải bàn
- washing-up liquid: nước rửa bát
Còn chần chừ gì nữa mà không bổ túc ngay từ vựng tiếng
Anh chủ đề nhà bếp phía trên vào kho từ vựng tiếng Anh của bạn. Cảm ơn bạn đã đọc
bài viết này và chúc bạn luôn học tập tốt!
Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018
Cách phân biệt cách sử dụng Say, Tell, Talk và Speak
Đều mang nghĩa chỉ các động từ chỉ hành động nói, “say”, “tell”, “talk”, “speak” lại lỗi phổ biến của nhiều người học tiếng Anh mà nhiều người mắc phải
. Ngay cả với
nhiều người bản ngữ, họ dùng một cách chính xác các từ trên trong từng ngữ cảnh,
nhưng vẫn khó lý giải bốn từ khác nhau như thế nào. Vậy hôm nay chúng ta cùng
tìm hiểu để biết cách phân biệt chúng nhé.
SAY
“Say” là động từ mang nghĩa “nói ra” hoặc “nói rằng”, chú trọng
nội dung được nói ra.
Ví dụ:
– She said (that) she had a flu.
– You’ve said “I love you” in Korean. Could you say that
again?
Ở cả 2 ví dụ trên, ta thấy rằng sau “say” là đại từ “that”
nhằm mục đích nhắc lại cụm danh từ ở phía trước, hoặc là một mệnh đề
Ví dụ:
Chúng ta dùng “say” để nhấn mạnh những gì chúng ta muốn nói.
Đó chính là nội dung được nói ra.
TELL
“Tell” là động từ mang
nghĩa “kể, nói với ai điều gì đó (tell somebody something), bảo ai làm gì (tell
somebody to do something) , cho ai biết điều gì (tell somebody about
something)”
Ví dụ:
– My grandmother is telling me a fairy story.(Bà tôi đang kể
cho tôi nghe một câu chuyện cổ tích)
+ Please tell me the truth.(Làm ơn cho tôi nghe sự thật)
+ Tell him to clean the floor as soon as possible.(Bảo cậu
ta lau nhà càng sớm càng tốt)
+ Tell me something about yourself.(Cho tôi biết vài thông
tin về bạn)
SPEAK
Đối với động từ này, khi chúng ta dùng nó là khi chúng ta nhấn
mạnh đến việc “phát ra tiếng, phát ra lời” mang nghĩa “nói chuyện với ai (speak
to somebody), phát biểu, nói ra lời”. “speak” thông thường theo sau nó không có
tân ngữ. nếu có thì đó là danh từ chỉ thứ tiếng.
Ví dụ:
– She is muted. She can’t speak. / (Cô ấy không nói (ra lời)
được vì cô ấy bị câm)
– She’s going to speak in public about her new MV. / (Cô ấy
sắp phát biểu trước công
chúng về MV mới của cô ấy)
– She can speak English fluently. / (Cô ấy nói tiếng Anh
thành thạo)
– “Can I speak to Susan?” / (Tôi có thể nói chuyện với cô
Susan được không?)
TALK
Và cuối cùng, “talk”
thì sao? “talk” cũng mang nghĩa là “nói chuyện với ai”, “trao đổi với ai về
chuyện gì” nhưng khác “speak” ở chỗ nó nhấn mạnh đến động tác “nói” hơn.
Ví dụ:
– They are talking about you. / (Họ đang nói về bạn đấy)
(chú trọng động tác nói)
– They are Vietnamese American, so sometimes They talk to
each other in Vietnamese. / (Họ là Việt kiều Mỹ nên thỉnh thoảng họ chuyện trò
với nhau bằng tiếng Việt).
Vậy bây giờ bạn có thể tự đưa ra đáp án cho 4 câu tiếng Việt
ở đầu bài bằng tiếng Anh rồi chứ?
1. She said that I was beautiful.
2. They talk in private, so no one can hear anything.
3. She told me that I had to practice English For Communication
at home.
4. She speaks English very fluently.
>> Nguồn: Sưu tầm
Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018
Nghệ thuật giao tiếp phi ngôn ngữ là gì?
Trong giao tiếp, hay thuyết trình để thu hút được người nghe, cần khéo léo kết hợp lời nói với giao tiếp phi ngôn ngữ. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn nâng cao được kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ của bản thân.
Ánh mắt và nụ cười là hai tài sản vô cùng quý giá trên khuôn mặt mỗi con người. Sử dụng nụ cười và ánh mắt là một nghệ thuật cần được rèn luyện thường xuyên. Những hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ này sẽ giúp bạn có được những thành công ngoài mong đợi.
Nghệ thuật giao tiếp phi ngôn ngữ
Chuyên gia tâm lý Trần Hải Vân, Trung tâm tư vấn Bạn và Tôi, bày tỏ: “Không gì chán bằng nghe một diễn giả nói suốt cả tiếng đồng hồ mà gần như không có một động tác biểu lộ của cơ thể. Do đó, trong giao tiếp, hay thuyết trình cần khéo léo kết hợp lời nói với giao tiếp phi ngôn ngữ. Giao tiếp phi ngôn ngữ là một kỹ năng mềm được thể hiện qua nét mặt, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, tư thế… Ánh mắt đi kèm theo lời nói sẽ làm cho lời nói truyền cảm và thuyết phục hơn. Lời nói đi kèm với nụ cười sẽ khiến cho cuộc giao tiếp trở nên thân thiện và gần gũi. Thậm chí, trong nhiều hoàn cảnh, ánh mắt có thể thay thế lời nói... Còn nụ cười được xem là một thứ trang sức rất hữu hiệu trong giao tiếp và cũng là phương tiện làm quen hay xin lỗi rất tinh tế, ý nhị”.
ThS. Võ Trương Như Ngọc, Phó trưởng bộ môn Giải phẫu mô, phôi, răng (ĐH Răng - Hàm - Mặt) cũng cho rằng: “Trong kỹ năng giao tiếp, cách nói chuyện rất quan trọng, thứ nhất là lời nói, cử chỉ, ánh mắt nhưng cái tạo ấn tượng lại là nụ cười. Một nụ cười như bông hoa trên miệng làm bừng sáng cả gương mặt, làm người xung quanh cũng cảm thấy dễ mến, dễ gần. Nụ cười có khi chỉ nở trong khoảnh khắc nhưng làm ta nhớ mãi. Nụ cười thật đơn giản nhưng không thể mua ”.
Cười là một hoạt động tốn ít calo, mà nó còn chứa đựng bao hàm ý lẫn sự tình tứ của người muốn truyền thông điệp, bởi thế mà nhân gian có câu “Liếc mắt đưa tình”. Chỉ cần cái chau mày, liếc mắt sắc bén cũng khiến người tiếp chuyện hiểu được tâm trạng của bạn. Một ánh mắt trìu mến, hàm chứa sự cổ vũ, đồng tình, khích lệ cũng khiến người đối thoại có thêm niềm tin trong cuộc sống và công việc.
Nguyễn Thu Thuỷ, cựu sinh viên Trường ĐH Y dược TPHCM từng bảo vệ luận văn với chủ đề “Vẻ đẹp nụ cười” quan niệm rằng: Mỉm cười là một biểu hiện văn minh, cũng là cách thể hiện sức mạnh hoặc truyền đạt thông tin. Ai giữ được nụ cười trên môi, chứng tỏ trong lòng họ còn có niềm tin và hy vọng vào cuộc sống. Chẳng ai muốn quan hệ với một người khi nào cũng có bộ mặt lạnh lùng hoặc cau có. Ai luôn giữ nụ cười trên môi, sống tận tụy với công việc, chan hoà với mọi người thì nụ cười mới phát huy được hết giá trị của nó. Tất cả những người có duyên không ai giống ai nhưng họ có một nét chung nhất là.
Để có ánh mắt và nụ cười đẹp
Theo Chuyên gia tâm lý Trần Hải Vân, mỗi người đều tự biết mình có thế mạnh gì trên khuôn mặt. Đó có thể là cái mũi đẹp hay đôi mắt, đôi môi... Do đó, để phát huy được thế mạnh trong kỹ năng giao tiếp cần biết che đi những cái xấu và tạo ra điểm nhấn ở những nét đẹp nhờ trang điểm hay để kiểu tóc hợp lý. Để thành công trong giao tiếp cần có ánh mắt đẹp và nụ cười đẹp. Vì trong giao tiếp chỉ có mắt và miệng cử động và có khả năng biểu cảm cao nhất. Do đó, nếu chẳng may một người có nụ cười hở lợi thì khi cười phải có ý bằng cách cười chúm chím, không cười to quá nhưng cũng đừng gượng gạo. Nghĩa là cần phải tập để có độ mở của nụ cười một cách hợp lý làm sao vẫn đảm bảo mình có nụ cười tươi tắn nhưng không được hở lợi.
Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, tập trung mọi giác quan của cơ thể: thị giác, xúc giác, thính giác, khứu giác... Nói cách khác, mọi năng lượng của các giác quan đều tập trung vào đôi mắt. Mắt to, đen, sáng... thể hiện sự thông minh, lanh lợi. Và cũng nhìn vào đôi mắt người đối thoại có thể đọc được phần nào tâm trạng, suy nghĩ của họ. Giao tiếp bằng mắt rất quan trọng, nó thể hiện sự chăm chú, sự tôn trọng của mình với người khác mà không ngôn ngữ nào thay thế được. Trong giao tiếp nên nhìn thẳng vào mắt người đối diện, thỉnh thoảng mới nhìn xuống để đỡ bị bối rối khi bắt gặp ánh mắt người đối thoại quá nhiều. Với ánh mắt này, người đối diện sẽ thấy bạn là một người tự tin và đáng tin cậy. Theo GS.TS. Hoàng Tử Hùng, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Y dược TPHCM: Việc tư vấn và tập luyện nụ cười, một số nơi trên thế giới đã làm rồi, nước mình thì chưa.
Cười là một phản xạ và hoàn toàn có cách để thay đổi, cải tạo nụ cười.
Vấn đề vẻ đẹp của nụ cười đã được Khoa Răng - Hàm - Mặt của trường quan tâm từ năm 1999. Trong vài năm gần đây đã có một số nghiên cứu về vấn đề này. Đây là những nghiên cứu góp phần cho việc xác định những “chuẩn” được thừa nhận rộng rãi về một nụ cười đẹp, làm cơ sở cho việc tư vấn và giúp luyện tập cho những người mong muốn thay đổi để có được nụ cười tự tin hơn.
Điều này có nghĩa là có thể thay đổi, cải tạo nụ cười nếu mất cân đối giữa môi và răng có thể làm lại răng, điều chỉnh về mặt hình thể, đường viền lợi cao thì điều chỉnh kéo xuống tạo một nụ cười hài hoà không hở lợi. Chỉ đơn thuần là hướng dẫn họ cách cười che đi nhược điểm”.
10 ghi nhớ giúp bạn nâng cao kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ
1. Lưu ý các cử chỉ phi ngôn ngữ
Con người có thể giao tiếp theo nhiều cách khác nhau; vậy bạn hãy để ý đến những điều như ánh mắt, điệu bộ, tư thế, những cử động của cơ thể và giọng nói. Tất cả những dấu hiệu này có thể truyền tải những thông tin quan trọng nằm ngoài lời nói. Thông qua việc quan sát kỹ thái độ không lời của người khác, bạn sẽ có khả năng giao tiếp phi ngôn ngữ hiệu quả hơn.
2. Quan sát các hành vi không nhất quán
Nếu lời nói của một người không khớp với hành vi phi ngôn ngữ của họ, bạn nên lưu ý hơn. Ví dụ, có người nói với bạn họ đang vui trong khi nhíu mày và nhìn chằm chằm xuống đất. Các nghiên cứu cho thấy khi lời nói không đi kèm với điệu bộ, người ta sẽ không quan tâm tới nội dung được nói ra mà thay vào đó tập trung vào các dấu hiệu của thái độ, suy nghĩ hay cảm xúc.
3. Tập trung vào giọng nói
Giọng nói của bạn có thể diễn đạt vô số thông tin, từ sự nhiệt tình, thờ ơ, cho đến giận dữ. Hãy bắt đầu để ý đến cách giọng nói ảnh hưởng đến phản ứng của những người xung quanh bạn và thử dùng giọng nói để nhấn mạnh những điều bạn muốn chuyển tới người nghe. Chẳng hạn, trong kỹ năng thuyết trình, nếu bạn muốn thể hiện mình thật sự quan tâm đến vấn đề gì đó, hãy thể hiện sự nhiệt tình bằng một giọng nói sôi nổi.
4. Giao tiếp tốt bằng ánh mắt
Khi người ta không nhìn vào mắt người khác, dường như họ đang trốn tránh hay cố che dấu điều gì đó. Trái lại, nhìn quá chăm chú cũng có thể bị xem là như muốn đối đầu hay đe dọa. Dù ánh mắt là một phần quan trọng trong giao tiếp, phải nhớ rằng kỹ năng giao tiếp bằng mắt tốt không có nghĩa là nhìn chăm chăm vào mắt người khác. Vậy làm sao bạn biết giao tiếp bằng mắt thế nào cho đúng? Một số chuyên gia về giao tiếp cho rằng nên nhìn thẳng vào mắt người khác trong từng khoảng thời gian bốn đến năm giây.
5. Hỏi về các cử chỉ không lời
Nếu bạn không hiểu ngôn ngữ điệu bộ của người khác, đừng ngại đặt câu hỏi. Cách hay nhất là nhắc lại suy diễn của bạn về những gì người khác nói và hỏi cho rõ hơn. Ví dụ bạn có thể nói “Vậy điều anh muốn nói là …”
6. Dùng cử chỉ để giao tiếp hiệu quả và có ý nghĩa hơn
Hãy nhớ giao tiếp bằng lời và không lời song hành để chuyển tải thông điệp. Bạn có thể cải thiện khả năng giao tiếp bằng lời thông qua cách dùng ngôn ngữ cử chỉ để hỗ trợ cho những gì bạn nói. Điều này vô cùng hữu ích khi bạn đang diễn thuyết hoặc nói trước đám đông.
7. Quan sát nhóm cử chỉ
Một cử chỉ đơn lẻ có thể mang nhiều ý nghĩa nhưng cũng có thể chẳng có nghĩa gì. Chìa khóa cho việc hiểu chính xác ngôn ngữ khôn g lời là tìm kiếm nhóm các cử chỉ củng cố cho một điểm chung. Nếu bạn quá chú trọng đến một cử chỉ trong nhiều cử chỉ, bạn có thể kết luận sai.
8. Cân nhắc ngữ cảnh về những gì người khác đang cố truyền đạt.
Khi bạn đang giao tiếp với người khác, luôn xem xét tình huống và ngữ cảnh giao tiếp. Một vài tình huống đòi hỏi phải có những cử chỉ trịnh trọng hơn và những cử chỉ này có thể được hiểu rất khác trong những tình huống khác. Hãy cân nhắc xem cử chỉ không lời có phù hợp trong ngữ cảnh đó hay không. Nếu bạn đang cố cải thiện việc giao tiếp không lời, hãy tập trung vào những cách giúp cho các cử chỉ của bạn ăn khớp với mức độ trang trọng mà tình huống yêu cầu.
9. Cảnh giác vì cử chỉ có thể bị hiểu sai
Theo một số người, cái bắt tay chặt thể hiện cá tính mạnh mẽ trong khi cái bắt tay yếu ớt được cho là thiếu can đảm. Ví dụ này chứng minh một luận điểm quan trọng về khả năng hiểu sai những cử chỉ không lời. Thực tế một cái bắt tay lỏng lẻo có thể chỉ một điều hoàn toàn khác hẳn, chẳng hạn như chứng viêm khớp. Hãy luôn nhớ quan sát nhóm hành vi. Cử chỉ tổng quan của một người nói lên rất nhiều điều so với một cử chỉ đơn lẻ được nhìn nhận tách biệt.
10. Luyện tập, luyện tập và luyện tập
Nhiều người dường như có sở trường dùng ngôn ngữ giao tiếp không lời một cách hiệu quả và hiểu đúng cử chỉ của những người khác. Những người này thường được gọi là có khả năng “hiểu người.” Trên thực tế, bạn có thể rèn luyện kỹ năng này bằng cách để tâm đến hành vi phi ngôn ngữ và luyện tập các cách giao tiếp không lời với mọi người. Thông qua việc chú ý đến hành vi không lời và tập luyện các kỹ năng, bạn có thể cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình một cách đáng kể.
Kết luận:
Mỗi người có một ngôn ngữ cơ thể riêng, chỉ cần bạn chú ý và liên hệ đến những dấu hiệu phi ngôn ngữ mình từng học thì chắc chắn bạn sẽ hiểu được đối tượng giao tiếp như thế nào. Điều này rất có ý nghĩa trong các cuộc đàm phán hay thương lượng quan trọng. Truy cập vào mục Kỹ năng sống của kenhtuyensinh để đọc thêm nhiều bài viết về kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ nhé! Chúc các bạn sớm thành công!
Bài viết thuộc chủ đề: kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, giao tiếp phi ngôn ngữ, nghệ thuật giao tiếp, kỹ năng biểu cảm khuôn mặt, ngôn ngữ giao tiếp không lời, cải thiện kỹ năng giao tiếp.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














